9 Nhà văn trở thành Bộ trưởng Pháp

Vào thứ tư ngày 17 tháng 5, thủ tướng mới của Pháp là ngài Edouard Phillppe đã công bố danh sách tên các bộ trưởng mới dưới trướng của ông. Trong số đó có 9 vị đã từng viết sách ở những thể loại rất khác nhau, từ chính luận đến tiểu sử, hồi ký thậm chí tiểu thuyết.

Résultat de recherche d'images pour "Edouard Philippe macron"

Tại Pháp, chính trị và văn chương đi liền với nhau. Nếu độc giả không thể nào quên được cuộc bút chiến và thậm chí cuộc chạy đua vào Top sách bán chạy nhất của các ứng cử viên tổng thống vừa qua, thì cũng không thể nào bỏ qua được danh sách các tác phẩm từng được kí tên bởi các bộ trưởng tương lai.

Résultat de recherche d'images pour "edouard philippe livre"

Tân thủ tướng Edouard Phillppe, tác giả của 2 cuốn tiểu thuyết giả tưởng-chính trị và một tác phẩm chính luận sắp xuất bản bởi NXB Lattès, đã chọn ra 18 bộ trưởng và 4 thư ký chính phủ. Tính cả biên tập viên Françoise Nyssen, tân bộ trưởng Bộ Văn Hoá, có đến 9 trên 22 thành viên chính phủ đã ra mắt sách của mình, và thậm chí một số bộ trưởng từng là nhân vật chính trong rất nhiều tác phẩm khác.

Résultat de recherche d'images pour "Gérard Collomb livre"

Gérard Collomb được bổ nhiệm làm bộ trưởng nội vụ, tác giả chính luận Et si la France s’évellait (NXB Plon, 2011) (tạm dịch: Và nếu nước Pháp tỉnh giấc). Trong tác phẩm, ông đề xuất dự án cho cánh tả trong thời gian bầu cử tổng thống năm 2012. Đồng thời là thị trưởng của thành phố Lyon, ông đã ra mắt nhiều tựa sách giới thiệu thành phố.

Fabienne Gay-Jacob-Vial vẽ chân dung của Gérard Collomb trong bức tranh mang tên Gérard Collomb, maire de Lyon (Gérard Collomb, thị trưởng của Lyon) (NXB Editions lyonnaises d’art et d’histoire – Nhà xuất bản Nghệ thuật và Lịch sử Lyon, 2011). Cuốn tiểu sử thứ hai, đã không còn xuất bản, được viết bởi Régis Guillet, Gérard Collomb: le baron rebelle (tạm dịch: Gérard Collomb: Nam tước nổi loạn) NXB Armand Colin, 2013.

Résultat de recherche d'images pour "Nicolas Hulot livre"

Nhà sinh thái học Nicolas Hulot ,được bổ nhiệm làm bộ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường, là tác giả của 23 cuốn sách được xuất bản kể từ năm 1976 đến nay (không tính những quyển sách được viết dưới tên của tổ chức của ông) 9 trong số đang hoặc sắp có mặt trên thị trường. Cùng với Robert Barbault và Dominique Bourg, ông miêu tả những thách thức của nền kinh tế, xã hội, khoa học và triết học dưới quan điểm của sinh thái học trong tác phẩm Pour que la terre reste humaine (tạm dịch: Để cho trái đất vẫn còn là nơi loài người tồn tại) NXB Seuil, xuất bản năm 1999, tái bản 2 năm sau đó.

Là giám đốc sản xuất của chương trình truyền hình Ushuaïa, le magazine de l’extrême (tạm dịch: Ushuaïa, tạp chí các tin quan trọng) từ năm 1987 tới năm 1996, Nicolat Hulot đã xuất bản bộ sách có tựa đề: Ushuaïa Nature: paradis au bout du monde (tạm dịch: Thế giới Ushuaïa: thiên đường tận cùng thế giới), xuất bản bởi NXB Michel Lafon vào năm 2000 và nay vẫn tiếp tục phát hành.

Nicolas Hulot đã lên tiếng cảnh báo về việc bảo vệ Trái Đất, bằng cách so sánh tình trạng của hành tinh như câu chuyện nổi tiếng Titanic, trong 2 tập sách Syndrome du Titanic (tạm dịch: Hiện tượng Titanic), được xuất bản bởi Calmann-Lévy vào năm 2004 và năm 2009. Cả 2 tập đều được tái bản, bản mới của tập 1 Syndrome du Titanic ra mắt năm 2009 và tập 2 dự định xuất bản năm sau. Năm 2006, cuốn sách của ông: Pour un pacte écologique (tạm dịch: Bàn về hiệp ước sinh thái) được xuất bản bởi Calmann-Lévy, và rồi tái bản năm tiếp theo. Cuốn sách kế tiếp ra mắt năm 2013 bởi cùng NXB với tựa đề: Plus loin que mes rêves (tạm dịch: Vượt lên những ước mơ của mình) và sau đó được tái bản bởi NXB Points vào năm 2014. Năm 2015, Nicolas Hulot tích hợp nhiều thông tin quan trọng trong vốn hiểu biết và suy nghĩ về tương lai vào cuốn sách Vivement le monde avenir (tạm dịch: Thế giới tương lai rực rỡ) – NXB Compagnie des philosophes, đồng tác giả với Edgar Morin và Patrick Viveret.

Ông còn chỉ trích về việc thiếu nhận thức về các mối đe doạ đối với các chuỗi sinh thái môi trường, trong cuốn sách Osons!: plaidoyer d’un homme libre (tạm dịch: Dám! Lời biện hộ của người tự do), NXB Liens qui libèrent. Tác phẩm sẽ được ra mắt vào ngày 7 tháng 9, cùng ngày, cuốn sách: Osons le big bang démocratique (tạm dịch: Sự bùng nổ của quyền dân chủ), và cùng những đồng tác giả khác, Nicolas Hulot đề xuất cách giải quyết các vấn đề khó khăn trong kinh tế, môi trường và xã hội trong thế kỉ 21.

Résultat de recherche d'images pour "François Bayrou livre"

Được bổ nhiệm chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, François Bayrou, đã bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình là nhà phê bình giáo dục Pháp vào năm 1990 trong cuốn sách La décennie des mal-appris (tạm dịch: Mù chữ trong cả thập kỉ), NXB Flammarion. Về nhân vật vua Henri IV của nước Pháp (còn gọi là: Henri de Navarre), thị trưởng Paul trình bày về triều đại vua nước Pháp từ năm 1589 đến năm 1610 trong tác phẩm Henri IV, le roi libre (tạm dịch: Henri IV, vua của sự tự do) (xuất bản bởi NXB Flammarion năm 1993 và tái bản bởi NXB J’ai lu năm 2015).

Năm 2001, chủ tịch của UDF đề ra tham vọng của mình về một nước Pháp nay mai trong tác phẩm Relève (NXB Grasset, năm 2001). François Bayrou giải thích những vấn đề trong bộ máy chính trị Pháp và sự lạm dụng chức quyền của các đảng, trong tác phẩm Au nom du tiers état (tạm dịch: Nhân danh đảng thứ ba) (NXB Hachette năm 2006). Vào năm 2007, ông viết tác phẩm Confidences (tạm dịch: Bạn tri kỉ) (NXB Max Milo) kể về Estelle, Jean Véronis và cả Nicolas Voisin. Sau khi trở thành chủ tịch của MoDem, François Bayrou lên án Lạm dụng chức quyền (Abus de pouvoir – NXB Plon năm 2009) và mong muốn một Nước Pháp đoàn kết (France solidaire – NXB Plon năm 2012), một Chân lý trong chính trị (De la vérité en politique – NXB Plon năm 2013) và một Cách mạng Pháp (Résolution française – NXB L’Observatoire, ngày 1 tháng 2 năm 2017).

François Bayrou đã viết 6 cuốn tiểu sử trong đó có 3 cuốn nay vẫn đang được bày bán: François Bayrou: quand la providence veut… Antoine Michelland và Philippe Séguy (tạm dịch: François Bayrou: khi thượng đế muốn) (NXB Rocher vào năm 1996 và tái bản vào năm sau), François Bayrou: un autre chemin của Violaine Gelly et Virginie Le Guay (tạm dịch: François Bayrou: Một con đường khác) (NXB Bartillat, vào năm 2007), Bayrou l’obstiné (tạm dịch: Bayrou, sự bướng bỉnh) của Rodolphe Geisler (NXB Plon, vào năm 2012). Richard Robert trình bày kế hoạch dự kiến của François Bayrou trong năm 2007 trong cuốn sách: La possibilité d’un centre (tạm dịch: Khả năng của một nhà lãnh đạo) (NXB Michalon), và Suzanne Ameil thuật lại trong tác phẩm L’entrée en politique de François Bayrou (tạm dịch: Bước đầu vào chính trị của François Bayrou) (NXB Cairn, 2013), trong tác phẩm của mình, bà đã xây dựng một hình tượng những người đàn ông có trí tuệ ảnh hưởng đến xung quanh.

Résultat de recherche d'images pour "sylvie goulard livre"

Résultat de recherche d'images pour "sylvie goulard europe pour les nulles"

Sylvie Goulard, được bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã viết 8 cuốn sách nói về việc phát triển châu Âu, bao gồm: Le grand Turc et la République de Venise (tạm dịch: Thổ Nhĩ Kỳ hùng mạnh và Cộng hoà VeniseI) (NXB Fayard, 2005) kể về cuộc đàm phám cho phép Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập vào liên minh châu Âu. Bà còn kể về lịch sử tổng quát của châu Âu trong cuốn sách: Le coq et la perle: cinquant ans d’Europe (tạm dịch: Con gà và ngọc trai: 50 năm châu Âu) (NXB Seuil, 2007). L’Europe pour les nuls (tạm dịch: Châu Âu cho người không biết gì) (NXB First, 2007, tái bản năm 2009 và năm 2014) và trong tác phẩm 50 notions clés sur l’Europe pour les nulls (tạm dịch: 50 vấn đề châu Âu cho người không biết gì) (NXB First, 2016). Bà còn chỉ rõ vị trí hiện tại nước Pháp ở châu Âu trong tác phẩm Il faut cultiver notre jardin européen (tạm dịch: Chúng ta phải cải tạo lại châu Âu) (NXB Seuil, năm 2008). Cùng với Mario Monti, bà giải thích vấn đề dân chủ cho dân vì dân, khi mà các nước trong châu Âu cùng nhau lựa chọn lãnh đạo của họ trong tác phẩm De la démocratie en Europe: voir plus loin (tạm dịch: Dân chủ ở châu Âu: hãy nhìn xa hơn) (NXB Flammarion, năm 2012). Các cựu nghị viên châu Âu tra xét về việc thành lập châu Âu để có thể tồn tại tới ngày nay ở trong tác phẩm Europe: amour ou chambre à part? (tạm dịch: Châu Âu: tình yêu hay là phòng riêng) (NXB Flammarion, 2013) và trong cuốn sách Goodbye Europe (tạm dịch: Tạm biệt Châu Âu) (NXB Flammarion, 2016), bà lên tiếng về những hiểm hoạ của phong trào Brexit.

Résultat de recherche d'images pour "Jean-Yves Le Drian livre"Jean-Yves Le Drian, bộ trưởng Châu Âu kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao, đã ra mắt cuốn sách: Qui est l’ennemi? (tạm dịch: Ai là kẻ thù?) (NXB Cerf, 2016), trong đó ông đưa ra các phương án chống lại các chính sách của Daesh.

Trong tác phẩm: Le phénomène Le Drian: enquête sur le plus influent des Bretons (tạm dịch: Hiện tượng Le Drian: Điều tra sức ảnh hưởng của người Anh) (NXB Coin de la rue, 2016), Benjamin Keltz và Nicolas Legendre đã điều tra trong vòng 2 năm đối với những nghị viên và các kế hoạch hiện tại của họ, bắt đầu từ thời trai trẻ đến khi tham gia vào chính phủ cũng như trở thành bộ trưởng Bộ Quốc phòng vào năm 2012. Trong cuốn sách Jean-Yves Le Drian, le glaive du Président (tạm dịch: Jean-Yves Le Drian, thanh kiếm của Tổng thống) (NXB Plon, 2017), Huber Coudurier đã miêu tả lại các hoạt động của Jean-Yves Le Drian tại Bộ Quốc phòng.

Résultat de recherche d'images pour "Jean-Michel Blanquer ecole"

Jean-Michel Blanquer, bộ trưởng mới của Bộ Giáo dục, đã viết tổng cộng 7 đầu sách trong đó có 4 cuốn sách vẫn dễ dàng tìm thấy: L’invention de l’Etat (tạm dịch: Sự ra đời của Nhà nước) (2015) kể về tiểu sử của 2 luật sư Léon Duguit và Maurice Hauriou những năm đầu thế kỉ XX; L’école de demain: propositions pour une Education nationale rénovée (tạm dịch: Một tương lai cho giáo dục: Đề nghị cải từ Bộ Giáo dục) (2016); L’école de la vie (tạm dịch: Trường Đời) (2014), cả 3 cuốn sách được xuất bản bởi NXB Odile Jacob. Vào ngày 5 tháng 10, NXB PUF sẽ ra mắt La Colombie, của tác giả Jean-Michel Blanquer, mô tả về nền văn hoá, văn học, lịch sử chính trị, kinh tế và tình hình tổng quan của đất nước.

Image associée

Bộ trưởng bộ Kinh tế, Bruno Le Maire, của đảng Cộng hoà, là tác giả của 7 tác phẩm: Dans Le minister (tạm dịch: Tại vị trí Bộ trưởng) (NXB Grasset, 2004), tác phẩm kể về các chính sách thúc đẩy kinh tế mang tính nghệ thuật của Bộ ngoại giao Dominique de Villepin (2002-2004). Bruno Le Maire trở lại công việc kinh doanh tại Clearstream, sau những cuộc bạo loạn năm 2005, và ông miêu tả về hồ sơ của Dominique de Villepin, Jacques Chirac và Nicolas Sarkozy cũng như những vị khác nước ngoài đến Pháp trong tác phẩm Des hommes d’Etat (tạm dịch: Những nghị sĩ nhà nước) (NXB Grasset, 2008, và tái bản bởi NXB Hachette et Pluriel). Và ông chia sẻ kinh nghiệm làm việc trong chính phủ trong cuốn sách Sans mémoire, le présent se vide (tạm dịch: Nếu không có bộ nhớ, hiện tại không được giải quyết) (NXB Gallimard, 2010)

Khi còn là bộ trưởng bộ Nông nghiệp, Bruno Le Maire trả lời các câu hỏi của nhà báo Véronique Auger trong đầu sách: Nourrir la planète (tạm dịch: Duy trì hành tinh) (NXB Le Cherche midi, 2011). Ông lại đạt giải thưởng văn học chính trị 2013 với tác phẩm Jours de pouvoirs (tạm dịch: Những ngày quyền lực) (NXB Gallimard, 2013 và tái bản năm sau), trong đấy ông kể về các cuộc họp của nhà lãnh đạo và miêu tả chân dung sắc thái Nicolas Sarkozy. Tác phẩm A nos enfants (tạm dịch: Con cháu chúng ta) (NXB Gallimard, 2014) truyền tải niềm hy vọng vào đất nước của họ trong tương lai. Với luật sơ cấp mới được đề ra vào tháng 11 năm 2016, Bruno Le Maire nói về hành trình của chính bản thân mình và tình trạng của nước Pháp trong đầu sách Ne vous résignez pas! (tạm dịch: Đừng từ chức!) (NXB Albin Michel, 2016).

Bộ trưởng mới của Bộ Kinh tế ra mắt cuốn tiểu thuyết: Musique absolue: une répétition avec Carlos Kleiber (tạm dịch: Âm nhạc tuyệt vời: một buổi tập với Carlos Kleiber) (NXB Gallimard, 2012), và đạt giải Pelléas và giải thưởng văn học của thành phố Deauville năm 2013. Và cuốn tự truyện duy nhất của ông, Bruno Le Maire, l’insoumis của Olivier Biscaye (tạm dịch: Bruno Le Maire, sự bất khuất) (NXB Moment, 2015) hiện nay không còn tái bản.

Gérald Darmanin, bộ trưởng Bộ tài chính, dự kiến xuất bản En famille le pire est à craindre (tạm dịch: Sống trong gia đình tồi tệ là điều đáng sợ), vào ngày 30 tháng 8 bởi NXB L’Observatoire, trong đấy mô tả lại những điều lệ dưới các mẩu truyện ngắn.

Résultat de recherche d'images pour "Marlène Schiappa livre"Cuối cùng, trong số bốn thư kí Nhà nước, duy nhất Marlène Schiappa mang trọng trách cân bằng giới tính cũng là tác giả nhiều đầu sách. Tại NXB La Musardine, bà ấy là tác giả của Osez l’amour des rondes (tạm dịch: Dám yêu hết mình) (2010). Bà còn viết nhiều đầu sách về việc làm mẹ và công việc trong tác phẩm: Maman travaille, le guide (tạm dịch: Mẹ đang làm việc, hướng dẫn) (NXB First, 2011) hiện nay không còn tái bản; Je reprends le travail après bébé (tạm dịch: Tôi trở lại làm việc sau khi sinh) (NXB Tournez la page, 2012); Les 200 astuces de Maman travaille (tạm dịch: 200 lời khuyên cho mẹ đi làm) (NXB Quotidien malin, 2013); Le guide de grossesse de Maman travaille (tạm dịch: Giúp đỡ mẹ mang thai vẫn có thể đi làm) (NXB Quotidien malin, 2014); Plafond de mère: comment la maternité freine la carrière des femmes (tạm dịch: Sự tối cao của người mẹ: làm thế nào người mẹ kìm hãm lại sự nghiệp của phụ nữ) (NXB Eyrolles, 2015). Bà còn viết Le dictionnaire déjanté de la maternité (tạm dịch: Từ điển cho mẹ mang thai) (NXB Michalon, 2013) và phòng bị việc kiệt sức J’arrête de m’épuiser! (tạm dịch: Tôi chấm dứt việc kiệt sức) (NXB Eyrolles, 2015).

Marlene Schiappa viết về cách dạy dỗ con trẻ trong đầu sách: Loge de l’enfant roi (tạm dịch: Lời khen cho trẻ) (NXB Nouvelles François Bourin, 2012). Bà còn lên án nạn hiếp dâm trong sách: Où sont les violeurs?: essai sur la culture du viol (tạm dịch: Đâu là kẻ hiếp dâm?: Xâm nhập vào thế giới tội phạm) (NXB L’Aube, tháng 2 năm 2017). Trong tác phẩm đầu tay của mình vào năm 2014, Pas plus de 4 heures de sommeil (tạm dịch: Không quá 4 giờ ngủ) (NXB Stock, và được công bố bởi Livre de poche vào năm 2015). Bà ấy còn gợi nhắc lại kinh nghiệm trong tiểu thuyết giả tưởng vào năm 2016, tiểu thuyết Marianne est déchaînée (tạm dịch: Marianne nổi giận) (NXB Stock). Ngày 7 tháng 6, Charleston sẽ ra mắt tiểu thứ ba của mình, Les lendemains avaient un goût de miel (tạm dịch: Ngày mai sẽ có mật ngọt – khổ tận cam lai).

Võ Châu Giang (theo Livres Hebdo)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

Create your website at WordPress.com
Get started
%d bloggers like this: