Ngày 10/05/1940, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tại mặt trận Tây Âu, sau khi quân Đức mở đầu chiến dịch tấn công đồng loạt vào Pháp, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. Quân Pháp sụp đổ nhanh chóng và chính thức đầu hàng chỉ trong vòng một tháng. Phần lớn lãnh thổ nước Pháp rơi vào tay người Đức, dù trên danh nghĩa vẫn do chính quyền bù nhìn Vichy điều hành. Câu chuyện lôi cuốn về sự kiện nước Pháp thất thủ năm 1940 được chính chứng nhân của nó – nhà báo Alexander Werth, phóng viên của tờ Guardian tại Paris – viết lại trong một cuốn nhật ký. Gần 80 năm sau, tác phẩm này cuối cùng cũng đã được phát hành.

Lá cờ Đức quốc xã bay cao trên Khải hoàn môn Paris vào tháng 06/1940 trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Lá cờ Đức quốc xã bay cao trên Khải hoàn môn Paris vào tháng 06/1940

Vào cái ngày 10/05/1940 ấy, khi tiếng chuông điện thoại vang lên trong căn hộ của mình ở Quai Voltaire, Alexander Werth, phóng viên của tờ Manchester Guardian tại Paris, vẫn còn đang say giấc. “Bốn giờ sáng hôm nay, quân Đức đã xâm chiếm Hà Lan, Bỉ và Luxembourg. Có tin nho nhỏ này tôi nghĩ là anh sẽ quan tâm. Bây giờ anh có thể tìm mua một tấm áo pyjama vải đôi bằng xi măng”, đồng nghiệp của ông ở văn phòng báo Guardian tại Paris thông báo ở đầu dây bên kia.

Alexander Werth, 39 tuổi, lúc ấy đã là một nhà báo thâm niên, hoạt động ở Paris từ đầu những năm 1930, thông thạo từng chi tiết của đời sống chính trị ở Pháp mà ông đã đưa vào nhiều cuốn sách. Là người gốc Nga, thuở niên thiếu ông đã cùng cha trốn chạy khỏi cuộc cách mạng Bolshevik, đến tị nạn tại Anh. Ở đó ông đã học ngành báo chí tại Đại học Glasgow.

Từ buổi sáng đẹp trời ấy đến ngày 18/06 khi lên đường sang Anh, nhà báo, người sau này đứng ra bảo vệ cho cuộc chiến tranh ở Liên Xô đồng thời trở thành một trong những chuyên gia nổi tiếng nhất về đề tài này, đã viết vào cuốn sổ tay của mình câu chuyện về sự sụp đổ của đất nước, hòa trộn với đời sống hàng ngày ở thủ đô và những người dân nơi đây. Tài liệu này được phát hành bằng tiếng Anh vào tháng 08/1940, và bây giờ lần đầu tiên xuất hiện tại Pháp, được biên tập cẩn thận và đặt tựa Les Derniers Jours de Paris (tạm dịch Những ngày cuối cùng của Paris, NXB Slatkine&Cie, giá bán 20€), theo ý tưởng của con trai ông, sử gia Nicolas Werth.

Dù mang giọng văn khắt khe khi nhắc đến sự bất lực của nền chính trị và quân đội Pháp, điều đáng giá nhất ở cuốn sách vẫn là bức tranh khắc họa lòng yêu mến đối với những người dân Paris và với thành phố, khi bỗng chốc họ phải đối mặt với bi kịch tồi tệ nhất trong lịch sử. “Khi tôi nhớ đến Paris, đến những năm tháng đã sống ở Paris, và đến tất cả những giá trị mà Paris đại diện cho cả nền văn minh châu Âu, tim tôi bỗng thắt lại đau đớn vô cùng.

Không có dấu hiệu chiến tranh nào ở Paris

Cuốn nhật ký ấy, Alexander Werth đã tập hợp lại khi ngồi trên tàu SS Madura, con tàu đầy ấp những người tị nạn mang họ đến Vương quốc Anh. Họ đành cắn răng chịu đựng. Con tàu này là cứu cánh của họ. “Trách nhiệm lớn nhất khi ông viết cuốn nhật ký này, theo như ông ghi lại trong phần lời tựa, có lẽ là trách nhiệm đối với sự kiểm duyệt báo chí ở Pháp. Sự kiểm duyệt ấy làm triệt tiêu mọi sự thành thật trong báo chí.” Ủy ban kiểm duyệt nhà nước hoành hành khắp nơi từ ngày tuyên chiến tháng 09/1939, ra rả giọng điệu tuyên truyền xoa dịu dân chúng y hệt như thời Chiến tranh Thế giới thứ nhất. “Trên báo toàn những tin tức lạc quan, và chiến thắng là điều tất nhiên, còn quân Đức, người ta bảo, sớm hay muộn thì cũng sẽ chết đói.” Cựu nhà báo ân hận. “Trong suốt tám tháng, tôi có cảm giác như mình đã ăn cắp và lừa đảo dân chúng nước Anh.

Vào thời điểm ấy, buổi sáng ngày 10/05, dưới ánh nắng chói chang, không hề có dấu hiệu nào ở Paris làm cho người ta nghĩ đến chiến tranh, chỉ có bao cát được đặt quanh những công trình nổi tiếng và trong tủ kính hiệu Lancel, hay những tượng chó sục Scotland bằng đất nung đang giơ một chân vào cuốn tự truyện của Hitler. Ở quán Lipp, Picasso đang nâng ly, nhà hàng và quán cà phê đầy nhóc người, xe cộ chạy “khiếp đảm”, còn lũ trẻ đang chơi đùa ở các công viên. Ở quán rượu Faucon, có ba người phụ nữ đang chuyện trò đầy lo lắng. Một trong số họ, người tóc nâu trẻ tuổi, nói với vị nhà báo “bằng một giọng gần như van nài, như thể hy vọng tôi sẽ nói ra điều gì đó có thể trấn an.” “Lực lượng Không quân Hoàng gia của chúng ta rất mạnh phải không ông?

Ở bộ Chiến tranh, tướng Thomas đang phải sắp đặt các chiến dịch cùng với các đồng nghiệp nước ngoài. Ngày qua ngày, ông làm họ chưng hửng bằng những tính toán đã tỏ ra vô dụng ngay từ đầu. Ngày 15/05, “tình hình có vẻ giống như thời kỳ tháng 03/1918. Tình hình khẩn trương đấy, nhưng không có gì nghiêm trọng hay tuyệt vọng (Thánh thần thiên địa ơi! Ông nói điều này vào ngày thứ hai nước Pháp bị tấn công xem!)“. Hay thêm nữa, vào ngày 18/05, “ngày hôm nay, chúng ta không phải chịu cú đánh trả nào vì quân Đức không tiến thêm bước nào nữa”.

“Tôi thà nhảy xuống sông Seine còn hơn”

Trên những con phố và lối đi dẫn đến bộ Chiến Tranh, Alexander Werth bắt gặp Weygand và Pétain – “Những anh bạn già khốn khổ – ở tuổi này mà cuộc sống lại bị đảo lộn hết cả”, hỏi han Paul Reynaud, “một con người kỳ lạ không còn khả năng biểu cảm trong cặp mắt bí hiểm, giống như một cặp mắt người Trung Hoa”. Nói ngắn gọn, đó chính là những người dân thành phố, nhân chứng của thời kỳ ấy, những người tạo nên mạng lưới quan hệ quanh vị nhà báo sau nhiều năm sống ở Paris – những nghệ sĩ, những người thay mặt cho một đại gia đình lớn hay cho giai cấp tư sản, những nhà ngoại giao, chiến binh – nói chung là những người tạo nên một tác phẩm phong phú. Chẳng hạn như có một cô gái là hầu bàn trong quán rựu ông thường hay lui tới ở góc đường Beaune và bờ ke Voltaire. Cô là người Marseille, có chồng ngoài chiến trận. Cô tuyên bố: “Không thể được, người ta không sống được dưới ách bạo ngược ngày! Tôi thà nhảy xuống sông Seine còn hơn!” Trong một trang khác, ông ghi lại cuộc hội thoại với cô gái người quen cũ này, giờ đây đã vận đồng phục quân nhân.

– Nhiều nước bị cướp đất rồi.

– Nhưng nước Pháp thì không chứ?

– Không, nhưng rồi cũng thế thôi. Quân Đức là bọn hổ báo; mà bọn Bỉ thì ngu xuẩn, bọn Luxembourg cũng vô dụng hệt như vậy với đám lính tầm 27 người.

Chưa đầy một tuần, cách giữa hai tiếng còi báo động không quân, tất cả sụp xuống địa ngục. “Paris tan hoang. Không còn xe bus trên đường, chúng đã bị trưng dụng để chở lính ở miền Bắc, hay chở ngược lại những kẻ tị nạn đây đó khắp nơi. Taxi cũng khan hiếm. Trong thành phố xuất hiện nhiều chiếc xe hơi Bỉ, với tấm đệm trên nóc. Đó là những người Bỉ may mắn thoát nạn. Còn những người khác ra sao?” Ở gian hàng Galeries Lafayette, chỉ còn lèo tèo vài khách mua vali và giày.

Sau đó, tướng De Gaulle đột ngột bốc hơi. “Vị tướng De Gaulle, người từng viết một cuốn sách nóng hổi về đề tài cơ khí hóa quân đội mà tôi đã có dịp tóm tắt với quý vị trên báo khi nó vừa được phát hành năm 1935, theo lời mọi người nói, đã mất tích.” Sau đó ông ta trở lại. Còn thành phố vẫn giữ được vẻ đẹp trong đống đổ nát. “Ngoài kia là quán cà phê Flore. Một bầu trời đẹp lộng lẫy, màu xanh pha sắc cam, bao phủ khu phố Saint-Germain-des-Prés. Không khí yên tĩnh và thơm ngát; những con phố nhỏ thì khá tối và gần như không còn người lữ khách nào. Hẳn là rất nhiều người đã di tản.

“Những Heifetz, những Horowitz non dại đã bị kết cái án đói đến chết”

Alexandre Werth biết rất rõ những gì đã diễn ra. Ông tặng những tấm vé máy bay cuối cùng cho bạn bè trong cộng đồng người Nga ở Paris, những người gia, người nghèo, những ai ông thấy bị bỏ lại cho móng vuốt của Đức quốc xã. Để tìm quên, ông đọc sách của Péguy (1) và vùi mình vào âm nhạc. Ông chơi dương cầm trong một căn hộ hàng xóm mà ông thường ghé thăm. Hết chơi Bach ông chuyển sang Chopin: “Tôi tự hỏi Kagan bây giờ ra sao, cậu bé Do Thái người Warsaw mà tôi gặp vài năm trước từng chơi bản Fugue số 16 (2) thật hay. Liệu cậu có chết đói đâu đây? Hay trong một trại lao động bẩn thỉu nào đó trong vùng chiếm đóng ở Lublin (3)? Trong hoàn cảnh này, ai mà nghĩ đến việc trả tiền cho những cậu bé Do Thái biết chơi Bach hay Chopin? Những Heifetz, những Horowitz (4) non dại đã bị kết cái án đói đến chết.

Les Derniers Jours de Paris, Alexander Werth, 286 trang, NXB Slatkine&Cie, 20€.
Les Derniers Jours de Paris, Alexander Werth, 286 trang, NXB Slatkine&Cie, 20€.

(1) Péguy (1873 – 1914): nhà văn, nhà thơ, nhà tiểu luận Pháp nổi tiếng

(2) Bach viết rất nhiều fugue (tẩu pháp) cho đàn ống nhà thờ, đàn phím, và đồng ca. Bản fugue số 16 cung Sol thứ là một trong những tẩu pháp nổi tiếng cho đàn ống của ông.

(3) Lublin: thành phố ở miền đông Ba Lan, bị tổn hại nặng nề trong Thế chiến thứ hai

(4) Heifetz (1901 – 1987) là vĩ cầm thủ người Mỹ gốc Nga, còn Horowitz (1903 – 1989) là dương cầm thủ người Mỹ gốc Ukraina. Cả hai đều là những thiên tài, vô cùng nổi tiếng và tên tuổi đã trở thành chuẩn mực.

[box type=”info” align=”justify” class=”” width=””]

Alexander Werth (1901 – 1969) là phóng viên chiến trường người Anh gốc Nga. Từ sau Thế chiến thứ nhất đến trước Thế chiến thứ hai, ông viết về nước Pháp. Trong thế chiến thứ hai, ông viết chủ yếu về Nga, nhất là chiến trường Stalingrad. Con trai ông là sử gia người Pháp Nicolas Werth, một chuyên gia về Liên Xô.

[/box]

Khánh Dương (theo LePoint)

Advertisements

Published by Bookaholic

reading gone wild

Leave a comment

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Create your website at WordPress.com
Get started
%d bloggers like this: