Elie Wiesel đã về với đêm tối

Giải Nobel Hòa bình, người kể chuyện không biết mệt, Elie Wiesel, người sống sót từ “thảm hoạ lớn” Shoah (hay còn gọi Holocaust), mất hôm thứ bảy 2/7 hưởng thọ 87 tuổi.

elie_wiesel_nyc_3.9.07_075

Nhà văn người Mỹ Elie Wiesel, chạy thoát khỏi trại tập trung của nazi và giải Nobel Hòa Bình 1986, đã qua đời hôm thứ bảy 2/7 hưởng thọ 87 tuổi. Ông đã cống hiến cả đời dành cho ký ức về Shoah.

Để “ngăn không quên” Shoah và để các dân tộc có thể dễ dàng hiểu nhau, ông và vợ mình đã thành lập Quỹ Elie Wiesel vì Nhân loại và Viện Hàn lâm Toàn cầu về Văn hóa, theo Ủy ban Nobel định nghĩa thì ông chính là “người đưa tin nhân đạo”.

Elie1“Một người tự do, sẽ không có tự do khi người khác không có, mà người đó sẽ tự do khi người khác cũng giống mình”

Elie Wiesel nhiều lần phê phán trách nhiệm cần có của các nhà cầm quyền, họ “biết” số mệnh của những người Do Thái bị bắt giam ở trại tập trung, chẳng hạn như Roosevelt và Churchill: năm 1979, tổng thống Carter đã cho ông xem những bức ảnh được chụp cuối năm 1942 bởi máy bay của Mỹ bay ngang qua Auschwitz.

Ông dấn thân cho nhiều nguyên nhân bởi vì ông đã “nguyện khi chiến tranh kết thúc: mãi mãi, dù ở đâu nếu có một người bị bắt nạt, thì tôi sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ”.

Sinh ngày 30/9 năm 1928, ở Sighet, nước Rumani (Transylvani), Elie Wiesel bị bắt giam lúc 15 tuổi ở Auschwitz-Birkenau, nước Ba Lan lúc bấy giờ bị nazi đóng chiếm, nơi mà mẹ và em gái của ông bị giết chết. Còn cha thì chết trước mặt ông khi bị chuyển tới Buchenwald (Đức).
Khi ra khỏi trại, năm 1945, ông được đón đến Pháp nhờ OSE (tổ chức giúp đỡ trẻ em Do Thái) và sống ở đó đến năm 1956. Sau khi học xong tâm lý học ở trường Sorbonne, ông trở thành nhà báo và nhà văn.

elie2

(Theo Raphael Glucksmann chia sẻ trên Twitter: “Elie Wiesel, La Nuit (Đêm), sách quan trọng của thế kỷ trước. Cảnh bị treo cổ. Người đàn ông vĩ đại, nhà văn. Thật là một ngày tăm tối…”)

Nhà văn François Mauriac viết lời tựa đầu cho cuốn tiểu thuyết La nuit (Đêm), 1958, NXB Les éditions de minuit, kiệt tác của ông chủ yếu dựa vào những ký ức lúc bị bắt giam, bên cạnh đó còn có khoảng mười lăm tác phẩm (bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hebreu và tiếng Yiddish), ba vở kịch và nhiều tiểu luận khác. Cùng với tác phẩm Si c’est un Homme de Primo LeviL’Univers concentrationnaire của David Rousset, La nuit, được xem là một trong những tác phẩm văn học đáng nhớ về trại giam của Đức,

Giải thưởng văn học Pháp Medicis và giải Livre Inter

Tài kể chuyện của ông được khẳng định qua tác phẩm Le Mendiant de Jérusalem (Người Ăn xin thành Jerusalem), được dựa theo cuộc chiến tranh “Sáu ngày”. Le testament d’un poète juif assassiné, 1980 (Di chúc của một nhà thơ Do Thái bị ám sát), Le cinquième fils, 1983 (Người con trai thứ năm) và Signes d’exode, 1985 những tác phẩm này thắc mắc về sự im lặng của Chúa. Le temps des déracinés, 2003 (Thời gian bật gốc) và Un désir fou de danser, 2006 (Ham muốn múa dữ dội) cũng được xem là một trong số những thành công của ông. Ở Pháp, phần đầu tác phẩm của ông được phát hành bởi NXB Seuil, Từ L’aube, 1960 (Bình Minh) đến Paroles d’étranger, 1982 (Lời nói của một người lạ). Ông nhận được giải Medicis năm 1968 với tác phẩm Le Mendiant de Jérusalem và giải thưởng Livre Inter năm 1980 với tác phẩm Le testament d’un poète juif assassiné. Sau đó thì sách của ông được NXB Rochet và Grasset phát hành, Discours d’Oslo (Bài diễn văn ở Oslo) khi ông nhận giải Nobel Hòa bình, NXB Seuil hoặc Odile Jacob (Mémoire à deux voix, cùng với François Mitterrand, 1995). Tổng cộng ông đã viết hơn mười tác phẩm và ngoài ra người ta còn viết nhiều sách và tiểu sử về ông, mà trong số đó không ngừng phê phán vị thế chính trị của ông.elie3

“Không bao giờ tôi có thể quên được đêm hôm đó, ngày đầu trong trại đó là đêm dài nhất trong cuộc đời tôi và bảy lần khóa lại. Không bao giờ tôi có thể quên làn khói đó. Không bao giờ tôi có thể quên được những khuôn mặt nhỏ của lũ trẻ mà tôi đã thấy cơ thể của chúng cuộn lại dưới một màu xanh biển câm lặng. Không bao giờ tôi có thể quên được những ngọn lửa ấy cháy rụi đức tin của tôi. Không bao giờ tôi có thể quên được cái sự im lặng trong đêm mà nó đã tước mãi mãi khỏi tôi sự ham muốn được sống. Không bao giờ tôi có thể quên được giây phút ấy đã giết đi Chúa tôi và linh hồn tôi, và giấc mơ của tôi đã trở thành gương mặt của sa mạc. Không bao giờ tôi có thể quên được điều này, dù cho tôi có bị đày sống lâu như Chúa. Không bao giờ”. (Trích La nuit, Elie Wiesel)

Công dân Mỹ từ năm 1963, Elie Wiesel đã từ lâu giữ chức giáo sư về Khoa học Nhân văn của trường Đại học ở Boston và chia sẻ cuộc sống của ông giữa nước Mỹ, Pháp và Israel.

Huân chương cao nhất của Quân đoàn Danh dự ở Pháp, ông đã nhận được huy chương vàng của Quốc hội Mỹ, cho việc làm mà ông đứng đầu Holocaust Memorial Council của Mỹ. Ông còn là Hiệp sĩ Chỉ huy vinh dự của Đế quốc Anh. “Người đưa tin hòa bình” của các quốc gia, ông còn là docteur honoris cuasa (danh hiệu được cấp bởi trường đại học về một lĩnh vực nhất định) của hơn mười trường đại học bao gồm Sorbonne ở Pháp.

Năm 2006, Elie Wiesel đã từ chối làm chủ tọa cho nước Israel, nhấn mạnh việc không “chỉ có một nhà văn” được công nhận, sáu năm sau, một dự án sách cùng với Barack Obama ông quay về Bechenwald năm 2009.

Trong cuốn sách với Mitterrand, ông viết: “Cái chết, là nhìn thấy người sống”.

Vy K. Doan (theo Livreshebdo)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

Create your website at WordPress.com
Get started
%d bloggers like this: