Một hành trình văn học đến Paris

paris

Paris, vẫn như nó đã từng, là hội hè miên man của những nhà văn. Trong nhiều thế kỷ, các cây viết túng quẫn vô danh đều lũ lượt kéo đến Thành phố Ánh sáng để tắm mát tâm hồn bằng nguồn cảm hứng say mê và vô tận của thành phố. Mỗi mùa hè, tôi(*) quay trở lại đây với hy vọng khai quật những ngóc ngách chưa kịp khám phá vào lần ghé thăm trước; và mỗi lần khoan khoái rời đi, tôi luôn thêm vào danh sách của mình một quán cà phê hay hiệu sách yêu thích vừa tìm thấy. Còn ở đâu trong thành phố mang phong vị truyền thống văn học này giúp bạn lần theo dấu chân của các tác gia yêu thích [ngoài những quán café]?

Những di tích văn chương của Paris vương vãi ở khắp mọi nơi trong lòng thành phố, giúp những người yêu sách có vô vàn cơ hội để bày tỏ sự tôn kính với thần tượng trong lòng. Trong hai năm qua, tôi đã sống ở Quatier Latin – trái tim và bộ não của Paris. Quay trở về những năm 1920, Paris của gần 100 năm về trước; La Rive Gauche là ngôi nhà chung của cộng đồng nghệ sĩ do những người ngoại quốc tự do, phóng khoáng, [những người] tự phong tặng cho mình cái tên “Thế hệ mất mát,” (hay còn gọi là “Thế hệ bỏ đi”) sau khi Gertrude Stein nghe trộm từ người chủ garage khi đang quát tháo thợ máy ngoại quốc, rằng “Chúng mày đều là lũ ‘Thế hệ bỏ đi’.” Đây cũng chính là thế hệ sinh ra Ernest Hemingway, F. Scott Fizgerald, T. S. Eliot, Ezra Pound, Jean  Rhys, và rất nhiều những danh nhân khác. Đúng là họ đã từ bỏ [các giá trị văn học truyền học], nhưng những người ngoại quốc sinh sống ở Paris trong thời hậu chiến tranh nhận ra họ và những người dân của vùng đất Paris đi cùng trên con đường thần thánh của văn học thế kỷ 20.

27 rue de fleurus gertrude stein
Ngôi nhà của Gertrude Stein ở số 27 rue de Fleurus

Tâm điểm của cộng đồng này chính là nhà văn người Mỹ Gertrude Stein, vị trưởng lão của hội văn nghệ sĩ ngoại quốc ở Paris, sống trong căn nhà 27 trên phố rue de Fleurus – nơi tụ tập của các nhà văn và nghệ sĩ vào mỗi tối thứ Bảy trong suốt 4 thập kỷ. Những thành viên tận tụy tại Salon của Stein gồm có Pablo Picasso, Henri Matisse, James Joyce, F. Scott Fitzgerald, Guillaume Apollinaire, Ezra Pound và Ernest Hemingway. Các hoạt động nghệ thuật diễn ra triền miên trong suốt 40 năm, trong đó các nhà tư tưởng, tác gia và văn nghệ sĩ vĩ đại của thế kỷ 20 đã không ít lần bước qua cánh cửa nhà Stein. Ngày nay, rue de Fleurus trở thành một con phố tĩnh lặng và khiêm tốn mà mọi người sẽ dễ dàng bước qua mà không mảy may ngó ngàng đến nó. Khi lần đầu tiên viếng thăm con phố bị cất giấu, tôi đã ném một cục đá từ Jardin du Luxembourg, nhìn xung quanh và tự hỏi liệu những người khách bộ hành đi bên tôi có để cho đôi mắt bị quyến rũ bởi công trình văn chương bất hủ cách đó có vài con phố hay không. Than ôi, họ chẳng buồn để ý đến nó. Khi đứng trước ngôi nhà cũ của Stein, [nơi] gợi nhớ về những văn – nghệ sĩ đã từng hiện diện ở ngay chính nơi mà mình đang đứng; tôi tự hỏi rằng vì sao tôi lại không bị đám đông những du khách đứng vây quanh nhấn chìm ở giữa.

hoi he mien man

F. Scott Fitzgerald và Ernest Hemingway là hai người tiên phong trong cộng đồng người Mỹ làm việc ở nước ngoài [tìm đến Paris], và Fitzgerald hiển nhiên là ít bị châu Âu bỏ bùa mê hơn bất cứ người đồng nghiệp đam mê châu Âu nào của ông. Năm 1921, Fitzegrald cùng đến Paris với vợ là Zelda. Lưu lại trong căn phòng ở khách sạn Saint-James Albany nhìn ra Jardin des Tuileries, cặp đôi của chủ nghĩa khoái lạc này đã náo động cả khách sạn khi đặt “đồ da dê bốc mùi hăng” trong phòng, và cột thang máy khách sạn vào sàn nhà bằng một chiếc thắt lưng để họ không cần phải chờ đợi. Không cần nói, hai kẻ nghịch ngợm nảy đã bị đuổi ra khỏi khách sạn vì những trò đùa bất lịch sự. Tại Luân Đôn, Fitzgerald bày tỏ sự bất mãn của mình rằng: “Chúa nhân từ lục địa của châu Âu. Nó chẳng qua chỉ có trò vui của những người già cả. […] Pháp khiến tôi phát ốm.”

Les deux magots

Hemingway thì hoàn toàn nghĩ Paris như quê hương, và hồi ký được phát hành sau khi ông qua đời, A Moveable Feast (bản dịch tiếng Việt là “Hội hè miên man” do Phan Triều Hải dịch), là bài thơ ca ngại những tháng năm hình thành một nhà văn trẻ trong ông ở Paris. Giữa lòng thành phố nơi các nhà văn và những người yêu sách xem café như phòng làm việc, dành hàng giờ để ngồi cạnh bạn bè và đồng nghiệp; người qua đường và những vị khách quen của quán luôn được chứng kiến một viễn cảnh lịch sử đang được dàn trải ở ngay trước mắt, mà có khi họ còn chẳng nhận ra. Hemingway dành hẳn một chương trong cuốn hồi ký A Moveable Feast để nói về cuộc gặp gỡ của ông với Ford Madox Ford trong tiệm café. Một trong những nơi Hemingway thường lai vãng là quán Les Deux Madox, nằm ở Saint-Germain-des-Prés. Albert Camus, Bertolt Brecht, Pablo Picasso và James Joyce cũng là những vị khách thường xuyên của “người” canh giữ Place Saint Germain des Prés.

cafe de flore

Đối thủ cạnh tranh của nó, Café de Flore, kiêu hãnh với một lò sưởi lớn thường được bao quanh bởi những nhà văn nghèo xác nghèo xơ để giữ ấm trong suốt mùa đông. Hemingway cũng từng là khách “ruột” của Café de Flore, nơi mà Truman Capote và Lawrence Durrel cũng được xem như những khách hàng tận tụy, và [nó] khẳng định nổi tiếng nhất của mình khái niệm về lý tưởng của những người ủng hộ thuyết hiện thực sinh. Trong thời gian bị [Đức] chiếm đóng, hai trong số những khách hàng trung thành nhất của quán – Simone de Beauvoir và Jean-Paul Sartre – sẵn sàng “đặt” bản thân trong quán từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa hôm sau, [họ] ngồi, làm việc, và thảo luận về thuyết hiện sinh. “Điều này có thể lạ lẫm với bạn, nhưng chúng tôi ở quán Café này cũng như đang ở nhà,” Sartre viết về tiệm café. “Trong suốt 4 năm, con đường dẫn đến quán Café đối với tôi như con đường đi đến Tự do.” Tiệm vẫn vẹn nguyên sự cổ kính quyến rũ, và là nơi tuyệt vời cho những-người-quan-sát trông chờ một ly cà phê ngon và những chiếc bánh croissant giòn rụm.

“Tại thời điểm đó [tôi] không có tiền mua sách,” Hemingway viết trong A Moveable Feast. Vì thế ông mượn sách từ thư viện cho thuê của Shakespeare and Company, một hiệu sách tư nhân trên đường rue de l’Odéon. “Nơi đáng yêu, ấm áp, và vui vẻ” này đã trở thành trung tâm của nền văn hóa văn học Mỹ-Ănglo vào đầu thế kỷ 20. Được gọi là “Stratford-của-Odéon” bởi James Joyce, người xem hiệu sách như thư phòng, các nhà văn thuộc “Thế hệ mất mát” coi nơi này như ngôi nhà [được gửi] từ quê hương. Hiệu sách gốc đóng cửa vào năm 1940 thực dân Đức chiếm đóng thành phố trong Thế chiến thứ 2, và vào vào năm 1951 hiệu sách dành cho người Anglo lại được mở cửa trên số 37 rue de Bûcherie, nhìn ra Nhà thờ Đức Bà Notre Dame. Thường xuyên được ghé thăm bởi Anaïs Nin, Henry Miller, William S. Burroughs và Allen Ginsberg; hiệu sách nhanh chóng trở thành trung tâm của nền văn hóa Beat.(**)

Shakespeare and Company old

Ngày nay, Shakespeare and Co. là thiên đường của mọt sách và nhà văn, nơi những cuốn sách cũ mốc meo nằm bên cạnh những ấn bản đã ký [bởi tác giả], và các bức tường được trang hoàng bằng postcard và thẻ điện thoại cũ kỹ. Đi lên tầng trên và bạn có thể sẽ tình cờ gặp một khách hàng đang chơi đàn piano, mỗi căn phòng đều rải rác các nhà văn và người đọc đang mải mê chìm đắm trong sự sáng tạo. Đến ngày nay, Shakespeare and Co. vẫn là người bạn đồng hành với các nhà văn lưu động, cùng 13 chiếc giường đặt trong hiệu sách, tầm 40,000 người đã từng qua đêm ở đây trong suốt những năm qua.

Jim Haynes
Jim Haynes tại một trong những bữa tiệc mở ở xưởng vẽ của ông

Đối với người ngoài, Paris là ngôi nhà của một người bạn, theo cách thức của người gốc Mỹ Jim Haynes và những bữa tối mở trong xưởng vẽ của mình vào mỗi tối Chủ nhật kể từ năm 1978. Đi đầu trong nền văn hóa ngầm của những năm 1960, Haynes tìm thấy một nhà hát thực nghiệm ở Edinburg. Trước khi phát hành tờ báo Suck, ủng hộ tự do tình dục; số báo đầu tiên của ông phát hành ảnh khỏa thân của Germaine Greer và một bài thơ khiêu dâm của W. H. Auden. Những cây viết trong cuộc đời của Jim có thể kể đến Norman Mailer, Samuel Beckett, Christopher Hitchens, và nhiều nhà văn khác. Ai có thể tin Henry Miller là một người vô gia cư khi ông phát hành Tropic of Cancer? Bữa ăn tối bắt đầu một cách tình cờ, và kể từ lúc đó, hơn 150,000 vị khách mời đã dùng bữa tại studio của ông ấy, và tất cả các buổi tối Chủ nhật về sau đều biến thành buổi họp mặt quốc tế của những người ngoại quốc ở Paris, khách du lịch và cả những người qua đường [tình cờ]. Bữa tối mở của Jim cũng chính xác như cái tên của nó: Mở. Không cần phải xoay sở để lấy một tấm thiếp mời thông qua người quen, một email gửi Jim để báo ông ghi tên vào danh sách là đủ. Hai năm về trước, trong bữa ăn đầu tiên ở chỗ của Jim, tôi tình cờ gặp một hội tuyệt vời; một người Ý sinh sống ở Paris, một khách qua đường yogi (người theo thuyết du già) người Úc, một giáo sư người Mỹ, và một cô gái người Israel lưu lại ở hiệu sách Shakespeare and Co.

paris love

Paris luôn được biết đến như Thành phố lãng mạn nhất thế giới, vì thế không có gì là ngạc nhiên khi nó cũng là Thành phố của những cuộc tình. Mối tình ngắn ngủi của Jean Rhys và Ford Madox Ford được đồn đại bắt đầu ở Cité Fleurie, thuộc địa của những nghệ sĩ trên Boulevard Arago, nơi Ford cho phát hành tờ báo Transatlantic Review. Anaïs Nin và Henry Miller cũng bắt đầu chuyện tình nóng bỏng của họ trên tầng năm của khách sạn Central phố rue du Maine.

Dù là bạn ghé thăm Paris hay chỉ đi ngang qua nó, lịch sử văn học của Paris vẫn luôn được bảo toàn nguyên vẹn, và, bạn luôn có thể tình cờ bắt gặp một dấu ấn văn học nào đó trong gần như mọi góc phố. Ngày hôm nay, nền văn học của quá khứ hòa quyện hài hòa với hiện tại, và, nếu bạn nhìn đủ kỹ, những đầu mối liên quan đến “Thế hệ mất mát” sẽ được tìm ra.

*Nhà văn và nhà báo Rachel Thompson.

**”‘Beat’ xuất phát từ tiếng lóng từ tầng lớp dưới đáy của xã hội, nghiện hút và trộm vặt ở New York và được J. Kerouac sử dụng vào năm 1948. […]’Beat’ nghĩa rộng chỉ sự mệt mỏi, nhưng theo cách sử dụng của Kerouac nó bao gồm ý nghĩa rộng của nghịch lý của ‘upbeat’ (yêu đời, lạc quan) và ‘beatific’ (ban phúc) và sự liên kết trong âm nhạc bắt đầu từ ‘on the beat’ (nhịp đập dồn dập). Các thành viên của thế hệ Beat nhanh chóng phát triển danh tiếng như những người theo chủ nghĩa khoái lạc mới. Họ trứ danh bởi không tuân theo một nguyên tắc nào và óc sáng tạo tự phát tức thời. […] Vượt ra ngoài phạm vi văn học, ‘Beat’ dần phát triển trở thành một trào lưu xã hội phản kháng lại những ước lệ của xã hội công nghiệp – kỹ thuật với hoài bão sống trần trụi.” (theo Linh Đàm)

Beat generation hay “Thế hệ bị đánh bại”: là thế hệ sinh ra trong khoảng thời gian sau thế chiến 1 đến cuối thế chiến 2; giữa “Thế hệ mất mát” và “Thế hệ bùng nổ”). của Paris của những người Bohem (những người không sống theo khuông phép xã hội bấy giờ và đi theo tư tưởng phản truyền thống).

Joey (theo Huffpost)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

Create your website at WordPress.com
Get started
%d bloggers like this: